75% bệnh nhân ung thư vú ở Việt Nam phát hiện bệnh sớm

bannermoi

slide1 slide2 slide3 slide4 slide5 slide6 slide7 slide8 slide9

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

75% bệnh nhân ung thư vú ở Việt Nam phát hiện bệnh sớm

75% bệnh nhân ung thư vú ở Việt Nam phát hiện bệnh sớm

Khoảng 3/4 số bệnh nhân ung thư vú được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, nhờ đó tỷ lệ sống thêm cải thiện rõ rệt, tiệm cận mức của thế giới, đạt khoảng 85-90%.

"Trước đây, 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến khám ở giai đoạn muộn, nhưng hiện nay, tỷ lệ này đã đảo ngược, với khoảng 3/4 bệnh nhân được phát hiện sớm, giúp tỷ lệ khỏi bệnh tăng cao", PGS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, nói tại Hội thảo quốc tế Ung thư vú năm 2026 với sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học trong nước và các chuyên gia quốc tế hôm 22/4 tại Hà Nội.

Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư thường gặp và có tỷ lệ tử vong cao. Theo GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận 24.563 ca mắc mới, đứng đầu trong các loại ung thư ở nữ giới, chiếm 28,9%; số ca tử vong là 10.008. Đáng chú ý, so với nhiều quốc gia khác, tỷ lệ mắc bệnh ở người trẻ tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, đây là căn bệnh có thể điều trị khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp.

Tỷ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh sớm có do ý thức tầm soát bệnh. Ngoài ra những tiến bộ mới nhất trong sàng lọc, chẩn đoán cũng giúp phát hiện những tổn thương nhỏ nhất, giúp bệnh nhân được tiếp cận với điều trị sớm nhất.
GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, cho hay bên cạnh việc chẩn đoán sớm được, điều trị ung thư vú tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Các kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp giảm biến chứng, trong khi phẫu thuật tạo hình, tái tạo vú không chỉ phục hồi hình thể mà còn mang lại sự tự tin, ổn định tâm lý cho phụ nữ sau điều trị. Nhờ vậy, người bệnh không chỉ được kéo dài thời gian sống mà còn cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống.

Gần đây, trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được tích hợp vào quá trình chẩn đoán và điều trị, hỗ trợ bác sĩ nâng cao độ chính xác, cập nhật kiến thức và xây dựng các phác đồ tham khảo. AI còn giúp việc hội chẩn đa chuyên khoa trở nên nhanh chóng, linh hoạt hơn. Nhờ những tiến bộ này, điều trị ung thư vú ngày càng được cá thể hóa, tối ưu hóa cho từng người bệnh.

Tại hội thảo, GS Anees B.Chagpar (Khoa Phẫu thuật, Trường Đại học Yale, Mỹ) cho biết, phẫu thuật ung thư vú hiện hướng tới hai mục tiêu chính. Thứ nhất là kiểm soát khối u, nếu như giai đoạn 1950-1960, bệnh nhân thường phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú thì hiện nay xu hướng là phẫu thuật bảo tồn, chỉ cắt một phần tuyến vú hoặc cắt rộng khối u. Trong tương lai, thậm chí có thể không cần phẫu thuật trong một số trường hợp.

Mục tiêu thứ hai là đánh giá và kiểm soát hạch bạch huyết. Trước đây, việc vét hạch nách được thực hiện rộng rãi nhưng hiện nay xu hướng chuyển sang sinh thiết hạch cửa. Nếu hạch âm tính thì không cần vét hạch, còn trong một số trường hợp dương tính vẫn có thể kiểm soát bệnh mà không cần can thiệp rộng. Trong tương lai, có thể tiến tới giảm thiểu hoặc loại bỏ cả sinh thiết hạch cửa ở một số nhóm bệnh nhân.

Phụ nữ được khuyến cáo nên tầm soát ung thư vú ở độ tuổi từ 40 trở lên. Dấu hiệu cảnh báo ung thư vú gồm: Sờ có khối u ở vú, hoặc vùng xung quanh như dưới nách; vú thay đổi về hình dạng và kích thước vùng da ở ngực; núm hoặc quầng vú xuất hiện vảy, đỏ hoặc sưng. Ngoài ra, các dấu hiệu khác như núm vú bị tụt, đau nhức; tiết dịch hoặc dịch có lẫn máu ở đầu vú.

Bản đồ